Một số dòng tộc, môn phái tiêu biểu của võ cổ truyền Bình Định

Từ bao đời nay, vùng đất Bình Định được mệnh danh là “cái nôi” của nền võ học chân truyền Việt Nam. Nơi đây đã tụ hội và sản sinh ra bao lớp anh hùng, hào kiệt, võ sư, võ sĩ nổi tiếng, được truyền thụ từ đời này sang đời khác, góp phần khẳng định và đánh dấu bước ngoặt lịch sử các quá trình tạo dựng, kế thừa và phát triển dòng võ cổ truyền Bình Định.

Điểm xuất phát của nó chính là sự ra đời của các vùng đất võ như: An Vinh, An Thái, Thuận Truyền, vùng đất căn cứ địa của nghĩa quân Tây Sơn như: Ấp Tây Sơn, Tây Sơn thượng đạo, Tây Sơn hạ đạo, khu Trường võ, khu Gò kho, Thành Hoàng đế đến vùng núi Hoàng Trưng, vùng sông Côn, Truông Mây, thành Bình Định…

Ở mỗi vùng, mỗi địa danh đều có sự gắn kết, quần tụ và sản sinh ra các dòng tộc, các môn phái, các dân tộc, có nhiều võ sư, võ sĩ mà tên tuổi và sự nghiệp của họ mãi mãi gắn liền với truyền thống thượng võ của quê hương Bình Định.

Mỗi môn phái đều có đặc điểm riêng, có bàn thờ sư tổ, có quy định tuyển chọn môn sinh, và có các điều nên làm và không nên làm với môn sinh. Nội dung võ theo gia truyền được truyền dạy theo quy định của môn phái: môn gì được dạy rộng rãi, môn nào lưu truyền trong môn phái, môn gì không được dạy. Có những võ sư đến tận trước lúc qua đời mới chịu dạy đòn bí truyền cho con mình.

Những bài võ gia truyền từ đời này sang đời khác, tuy điều kiện lịch sử có đổi thay, có võ sư qua đời đột ngột không kịp truyền dạy cho con cháu, nhưng nhờ các gia phả bí truyền, các bài thiệu còn giữ lại mà môn phái tiếp tục phát triển. Tuy có động tác thiếu hoặc thừa, lời thiệu có khi thất lạc hoặc rách nát một số chữ, nhưng nói chung vẫn giữ được tính chất và sự độc đáo của võ cổ truyền Bình Định.

Càng về sau, nhất là từ năm 1930 trở lại đây, Bình Định lại xuất hiện thêm nhiều môn phái cổ truyền. Ngoài những bài võ gia truyền, các võ đường cạnh tranh với nhau, đua nhau dạy những đòn thế, cải tiến phương pháp giảng dạy với mục đích bảo vệ môn phái và “hạ đài” được đối phương. Lúc này, võ mang tính chất đối kháng, đánh nhau có kẻ thắng người thua (võ đài), nên mất dần đi tính chất của nó.

Sau đây là một số dòng tộc tiêu biểu:

1. Dòng tộc họ Trương

Ông tổ dòng họ Trương là Trương Đức Thường từ xứ Thanh Hà, Hải Dương vào khai sơn phá thạch ở vùng đất Tú Dương (thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, Bình Định) vào đầu thế kỷ thứ XVII (khoảng năm 1605). Sau đó dồn đến định cư ở thôn Phú Thiện, xã Mỹ Hòa, Phù Mỹ, Bình Định cho đến ngày nay.

Theo gia phả của dòng tộc để lại thì dòng họ này có nhiều người học giỏi, thi đỗ cử nhân, cả văn lẫn võ và hầu như đều theo nghiệp văn chương và nghiệp võ.

Các đời sau này có ông Trương Đức Huyên – tự Lương Thành, làm chức quan Câu Đương nước Đại Việt, sinh năm Ất Sửu, mất năm Ất Hơi, thọ 71 tuổi. Ông Huyên là ông nội của ông Trương Đức Giai, thi đậu cử nhân cùng một lúc cả văn lẫn võ và làm quan dưới triều Nguyễn Gia Miêu, sau đó đến ông Trương Đức Lân, Trương Trạch… đều đỗ cử nhân võ, trong đó ông Trương Trạch chính là thầy dạy võ cho ông Trương Thanh Đăng, sau này làm chưởng môn phái Sa Long Cương (một trong những môn phái có ảnh hưởng lớn ở Nam Bộ). Theo ông Trương Quang Miễn, tộc trưởng của tộc họ Trương và căn cứ bài vị thờ ông Trương Đức Giai tại từ đường, thì chính ông Giai là người biên soạn tập sách võ này trước khi thi đỗ cử nhân cả văn lẫn võ. Ngoài tập sách võ còn có cả gia phả ghi lại công đức và sự nghiệp của các thế hệ dòng họ Trương, nhưng đến nay đã thất lạc, chỉ còn lại phần đầu tập sách võ, gồm 26 trang trong đó chép 15 bài thiệu bằng chữ Hán, 2 bài thiệu bằng chữ Nôm còn các trang tiếp theo đã bị mất hoặc bị rách nát không còn thấy chữ. Các bài còn lại được viết theo thể thơ, được thờ cùng các bài vị của ông tổ dòng họ Trương và được dòng tộc trân trọng thờ tự, gìn giữ như một báu vật thiêng liêng trong đó có một số bài chưa truyền bá trong dân gian, cụ thể:

1. Ngũ thảo môn

2. Trực chỉ thảo

3. Ô du thảo

4. Quyền thảo

5. Đằng bài thảo

6. Siêu đao thảo (dài 8 câu, 54 chữ, chưa kể một số chữ bị rách mất)

7. Trường kiếm thảo

8. Tam thế đằng bài thảo

9. Siêu đao thảo (dài 18 câu, 74 chữ)

10. Long đao thảo (dài 11 câu, 77 chữ)

11. Long đao thảo (dài 8 câu, 56 chữ)

12. Song kiếm thảo

13. Song phũ thảo

14. Quyền thảo

15. Tam thế côn thảo

16. Trường thôn diễn quốc âm ca

17. Thập ngũ thế côn pháp

Trong số các bài thảo trên có một số bài trùng tên với các tư liệu đã sưu tầm và phát hiện ở các huyện trong tỉnh Bình Định. Điều đó cho thấy các bài thiệu phần nhiều đều xuất xứ từ các vùng đất có truyền thống võ thuật lâu đời của Bình Định, cụ thể như bài “Ngũ môn thảo”, “Trực chỉ thảo”, “Long đao thảo”, “Ô du thảo”…
2. Dòng tộc họ Đinh

Ông Thủy tổ của dòng họ Đinh là Đinh Viết Hòe, sinh năm 1710 từ đất Ninh Bình phiêu bạt vào sinh cơ lập nghiệp tại ấp Thời Đôn (nay thuộc thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, Bình Định) vào khoảng năm 1730 và lấy thêm vợ thứ (ông Hòe đã có vợ ở quê nhà) là bà Nguyễn Thị Quyền, sinh năm 1715 và sinh được 3 người con là Đinh Văn Diệm, Đinh Văn Nhưng, Đinh Văn Triêm.

Ông Đinh Văn Diệm thì theo nghiệp bút nghiên, còn ông Đinh Văn Nhưng thì lại theo đời cung kiếm.

Ông Nhưng đã cùng vợ mở trường dạy võ, học trò các nơi nghe tiếng ông đến xin học rất đông, trong số đó có 3 người tên là Thơm, Lữ và Dũng. Nhưng chỉ có Thơm (Hồ Thơm) là tướng mạo khác thường, trán cao, mũi thẳng, mắt sáng, mày dài, cằm vuông đi đứng uyển chuyển, hình vóc vạm vỡ, sức lực tiềm tàng, mạnh mẽ, trí tuệ thông lạ thường, học đâu nhớ đó, nên thầy Đinh Văn Nhưng rất thương và nhận làm con nuôi.

Sau 4 năm ăn học, chỉ có Thơm là giỏi nhất, võ nghệ tinh thông, siêu quần. Lúc thôi học, thầy Nhưng có tặng Thơm quyển “Binh pháp Tôn Ngô” mà trước kia thầy Nhưng đã được thầy của mình tặng.

Khi phong trào khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra, ông Đinh Văn Nhưng đã giúp nhiều lương thực cho nhà Tây Sơn để tiêu diệt Trương Thúc Loan, một quyền thần gian ác của Chúa Nguyễn Phúc Thuần. Mỗi lần đem lương thực đến giúp nhà Tây Sơn, ông thường đi bằng kiệu khiêng, hai bên che du du (cây lọng, rợp rạ), dân chúng môn đệ theo ông rất đông và mang theo cả cào cỏ, cuốc, thuổng, xẻng, mỏ gãy, vồ vồ, đao, rựa… (đây là những công cụ lao động rất gần gũi, gắn bó với nông dân và cũng chính là những môn binh khí rất lợi hại mà ông đã truyền dạy cho các môn đệ).

Khi vua Quang Trung lên ngôi, ông được phong tước: Điện Tiền Đại Đô Đốc Tả Thân Vệ Úy; hàm: Thái Phó; tước: Sanh Sơn Bá. Mỗi năm được về triều vua một lần nhưng “nhập triều bất bái” (có lẽ ông vừa là thầy, vừa là cha nuôi của nhà vua nên vào triều không phải bái lạy Hoàng đế Quang Trung).

Ông Đinh Văn Nhưng (tên thường gọi sau này là ông Chảng) có hai người con tên là Đinh Văn Thành (con bà cả), và Đinh Quý Lang (con bà thứ). Ông Thành sinh các con là: Đinh Viết Mỹ, Đinh Viết Thừa… ông Lang sinh các con là: Đinh Lưu, Đinh Triệu, Đinh Thuần… Sinh thời ông Đinh Văn Nhưng tướng mạo trông rất uy lực, tính tình ngay thẳng, khẳng khái, sống giản dị, yêu nước, thương người, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn, nhưng cũng rất ngang tàng.

Theo bảng tông đồ Đinh tộc (dòng họ Đinh) thì đến nay đã trải qua 11 đời, gồm 8 phái ở rải rác nhiều nơi, nhưng tộc chính vẫn là: thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, Bình Định, thuộc phái của ông Đinh Văn Diệm. Hiện nay, tại thôn Bằng Châu, Đập Đá còn từ đường dòng họ Đinh, ông Đinh Văn Mỹ, sinh năm 1946, là cháu đời thứ 10 (thuộc chi 2, phái 1) và ông Đào Duy Thu, sinh năm 1945 thuộc chi 2, phái 3 của dòng họ Đinh thờ tự và cũng giống như các công thần của thời Tây Sơn, hầu hết các tài liệu, hiện vật của ông bị tiêu hủy sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi.

Nhưng rất may mắn, trong quá trình truy tìm các tư liệu, Sở TDTT Bình Định đã phát hiện được một tập tư liệu cổ, do võ sư Phan Thọ, ở thôn Thủ Thiện Thượng, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, (là môn đệ của võ sư Bảy Lụt, Đinh Hề ở An Vinh) cung cấp.

Tư liệu dày 18 trang, gồm 3.260 chữ, được viết bằng loại giấy bắc (giấy cổ), khổ giấy 12cmx12cm, trong đó có 18 bài thiệu võ, chủ yếu viết về quyền và binh khí do ông Đào Thống ký tên (theo bảng tông đồ họ Đinh, ông Đào Thống thuộc dòng tộc Đinh) vì thời ấy dòng họ này khi sống thì lấy họ Đào, còn khi chết thì sẽ trở về họ Đinh “sinh Đào, tử Đinh” nên tập tư liệu này rất có nhiều khả năng là của dòng họ Đinh còn sót lại.

Trong số 18 bài thiệu, có 2 bài Trương Phụng Hoàng thảo pháp và bay thảo pháp (bài 12 và 13) được viết bằng chữ Nôm, còn các bài khác đều viết bằng chữ Hán, cụ thể:

Bài 1: Ngũ môn pháp

Bài 2: Ô du thảo pháp

Bài 3: Thiền sư thảo pháp

Bài 4: Tứ hải giai huynh đệ thảo pháp

Bài 5: Tam phân thế

Bài 6: Bị rách mất tên đầu đề bài thảo

Bài 7: …biến bách (mất phần đầu)

Bài 8: Thần nhân biến bách thế

Bài 9: Tấn hưng thảo pháp

Bài 10: Thần đồng thảo pháp

Bài 11: Linh ngũ thảo pháp

Bài 12: Trương phụng hoàng thảo pháp

Bài 13: Én bay thảo pháp

Bài 14: Song thủ thảo pháp

Bài 15: Xung thiên thảo pháp

Bài 16: Phụng hoàng oanh thảo pháp

Bài 17: Lão mai thảo pháp

Bài 18: Thái Sơn thảo pháp

Tập tư liệu này có một số bài trùng tên với tư liệu được phát hiện ở dòng họ Trương (Phù Mỹ) và của võ sư Nguyễn Văn Đấy – cháu Hồ Hành, được nhân dân tôn vinh là Hồ Hành Hổ, người có võ công uyên thâm, nổi tiếng đả hổ, cứu người ở vùng đất Bồng Sơn, Hoài Nhơn – cung cấp, cụ thể như các bài: Ngũ môn pháp, Ô du thảo, Song phú thảo pháp, Thái Sơn thảo pháp, Lão mai thảo pháp, Ngọc Trản… Ngoài ra, có một số bài do để lâu năm nên bị mục nát, mất chữ không dịch được và còn sót lại quá ít đã là một thiệt thòi lớn cho công việc bảo tồn, lưu truyền các tư liệu gốc của võ cổ truyền Bình Định trong tương lai.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s