Võ thuật Triều Tiên 2000 năm diễn hóa: Từ Vương quốc Kogooryo tới môn võ Taekwondo (tt)

Triều đại Koryo.
Wan-Keon nguyên là một người hầu cận của vua Koongye. Nhưng đến năm 918. Ông lật đổ Koongye và thiết lập triều đại Koryo.


Về sau, từ vị vua thứ 11, Moonjong cho đến vị vua thứ 18 Uijong đã trọng các quan văn và khinh các quan võ, sự phân biệt ấy đã gây nên sự chính biến do Jeong Joong cầm đầu.

Giới võ quan đã loại khỏi triều đình những quan văn hay xu nịnh và làm những chuyện mờ ám khiến vua không còn sáng suốt để trị nước. Họ tái lập được một vương quốc lành mạnh. Jeong Joong nắm trong tay nhiều quan võ rất giỏi, đặc biệt là Yi Uimin. Ông này giỏi đến nỗi đã được Uijong sủng ái, ban cho cấp bậc Đại tướng quân. Sử chép rằng vua Uijong rất thích xem đấu võ ở sân rồng. Môn võ có tên là Soobakhi.

Triều đại Koryo nhờ có một nền văn hóa Phật học rực rỡ nên được các nước làng giềng công nhận là Korea(Cao Ly, ngày nay là Triều Tiên). Korea là cách đọc trại của chữ Koryo.

Vào thế kỷ 13, sau 30 năm chiến tranh, quân Mông Cổ chiếm đóng Korea. Một thế kỷ sau (1368), đất nước mới được giải phóng.

Triều đại nhà Lý.

Năm 1392, Đại tướng Lý sáng lập một triều đại mới: Nhà Lý lên ngôi cai trị đất nước.

Vào đầu triều đại này, võ thuật vẫn còn chiếm một địa vị quan trọng. Các môn võ cổ truyền, mặc dù qua bao thăng trầm tùy theo từng triều đại, cũng vẫn được truyền từ các vương quốc Kogooryo, Silla, Baekje đến triều đại Koryo và ăn sâu bén rễ vào triều Lý, là lúc các môn võ được hệ thống hóa một cách khoa học. Các vua đầu nhà Lý rất ham chuộng võ thuật, bằng chứng là năm 1790, năm thứ 14 đời vua Jeongjo, võ quan Yi Deokmoo đã lãnh vương mệnh soạn một bộ sách võ nhan đề là “Moovedobotongji”. Sách trình bày các môn tay không và binh khí. Sách viết bằng chữ Hán, vẽ hình võ sĩ mặc quần dài, ở trần đầu bịt khăn, biểu diễn những thế võ đã có tính chất dịu dàng, uyển chuyển.

Vào thời này, triều đình thường mở các kỳ thi võ. Muốn trúng tuyển làm võ quan, thí sinh phải hạ ít nhất ba thí sinh khác bằng quyền cước. Vua Taejong cũng rất thích xem các cuộc tỷ thí.

Nhưng dần dần, đất nước trải qua một thời kỳ thanh bình lâu dài, các vua về sau đâm ra chỉ chú trọng việc dùi mài kinh sử, lấy Khổng giáo làm quốc giáo. Quan văn lại nắm hết quyền hành, võ quan không có vai trò đáng kể. Việc binh chểnh mảng. Môn võ cổ truyền Tae Kyon sống thoi thóp, không thể tiến xa hơn kỹ thuật cước pháp lúc ban đầu.

Thời Nhật thuộc.

Vào cuối thế kỷ 19, cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa Trung Quốc và Nhật Bản đưa đến kết cục là Triều Tiên bị ách đô hộ của Nhật Bản năm 1907.

Năm 1910, Triều Tiên – Nhật Bản lâm chiến. Triều Lý suy yếu nên chẳng mấy chốc rơi vào tay người Nhật.

Dân Triều Tiên bị nghiêm cấm tập luyện các môn võ cổ truyền. Người Nhật manh tâm xóa bỏ mọi dấu tích dân tộc của người dân bị trị, đồng thời cũng là một phương cách thực tế, không muốn người dân Triều Tiên giỏi võ để chống lại họ.

Nhưng ách đô hộ và sự cấm đoán của kẻ thống trị đã đánh thức lòng yêu nước và lòng yêu mến thiết tha với những gì liên quan đến dân tộc. Mọi người lén lút tập võ cổ truyền. Trải qua 36 năm nô lệ, người võ sĩ đạo Triều Tiên đã sục sôi lòng quật khởi, luôn luôn tìm học và khổ luyện võ nghệ.

Ta biết rằng môn võ Tae Kyon là môn võ cổ truyền của Triều Tiên chuyên sử dụng đòn chân. Trong thời Nhật thuộc, người Triều Tiên đã biết lợi dụng cơ hội để tiếp thu các đòn tay từ Trung Hoa và Nhật Bản truyền sang, kết hợp với đòn chân của Triều Tiên thành một môn đầy đủ với nhiều tên gọi như Tang Su (Đường thủ), Kong Su (Không thủ), Kwon Pop, Tae Su (Túc thủ).

Với bản lãnh võ thuật ấy, người dân Triều Tiên đã giáng trả quân Nhật nhiều đòn đau điếng, tiêu biểu là trận đánh của 700 võ sĩ yêu nước chiến đấu tay không với giặc mà sử sách còn ghi lại.

Môn võ mới.

Năm 1954, đệ Nhị thế chiến kết thúc với chiến thắng của phe Đồng Minh, Triều Tiên được giải phóng. Các thanh niên du học nước ngoài trở về mang theo bản thân họ những trình độ võ công mà họ tiếp thu được từ khắp các nước Á đông.

Võ thuật lại được dịp vùng dậy, khắp nước, người Triều Tiên đua nhau luyện võ. Môn Tae Kyon càng đa dạng hơn nhờ tiếp thu thêm các đòn thế mới lạ của các môn võ nước ngoài.

Trong số sinh viên du học hồi hương, người nổi bật nhất là Choi Hong Hi, sinh năm 1918. Ông nắm vững kỹ thuật của các môn võ Nhật, kết hợp với vốn liếng võ cổ truyền Triều Tiên để thai nghén thành một môn võ mới. Từ tháng 3 năm 1946, ông đã bắt đầu phát triển môn võ ấy. Sau này, trong một kỳ đại hội, ông đặt tên môn võ mới là TAE KWON DO (TAE: Túc, chân – KWON: Quyền, tay – DO: Đạo), người Việt Namquen gọi là Thái Cực Đạo. Tae Kwon Do được chính thức sáng lập11/4/1955. Võ sư Choi Hong Hi được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn Tae Kwon Do Nam Triều Tiên.

Ngày 22/6/1966, với sự đồng ý của 9 quốc gia, Liên đoàn Tae Kwon Do Quốc tế (Inter-national Tae Kwon Do Federation – viết tắt là ITF) được thành lập do võ sư Choi Hong Hi làm Chủ tịch.

Sáu năm sau ngày ra đời, cuối 1972, Liên đoàn ITF đã đạt được 50 quốc gia hội viên. Từ năm 1974, cứ 3 năm 1 lần, ITF tổ chức một kỳ tranh giải vô địch thế giới – không kể những giải vô địch quốc gia và quốc tế khác.

Năm 1972, Liên đoàn ITF dời từ Nam Triều Tiên qua Canada. Hiện nay, ITF đóng trụ sở tại Áo (Austria) có 93 nước hội viên.

Năm 1973, Liên đoàn Tae Kwon Do Thế giới (World Tae Kwon Do Federation – viết tắt là WTF) được thành lập, trụ sở đáng tại Seoul,Nam Triều Tiên do võ sư Un Young Kim là Chủ tịch

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s