Võ thuật Philippines: Arnis – Đoản côn

Arnis là môn võ tự vệ truyền thống của đất nước Philippines. Thực dân Tây Ban Nha trong thời gian đô hộ đất nước này đã đặt môn võ ra ngoài vòng pháp luật. Nhưng người Filipinos vẫn tiếp tục tập luyện môn võ trong vòng bí mật, và họ chỉ sử dụng nó công khai những khi nổi dậy chống lại bọn lãnh chúa ngoại bang.

Võ tự vệ Arnis môn võ bất khả cấm

Ferdinand Magellan, nhà thám hiểm vĩ đại người Tây Ban Nha, là nhân vật Tây phương đầu tiên gặp vận rủi khi đụng phải các vũ khí tự vệ của người dân Philippines.

Magellan và thủy thủ đoàn của ông đang trong chuyến du hành làm nên lịch sử khi họ dừng lại Philippines vào năm 1521. Sau chuyến ghé thăm ngắn ngủi nhưng mang đầy dấu ấn của bạo lực này, thủy thủ đoàn của Magellan lại giương buồm ra khơi và cuối cùng đã trở về tổ quốc Tây Ban Nha, kết thúc chuyến du hành vòng quanh thế giới lần đầu tiên trong lịch sử.
Nhưng họ đã về đến đất mẹ thiếu mất vị thuyền trưởng Magellan đầy kiêu hãnh của họ. Nhà chinh phục vĩ đại này chẳng bao giờ còn đi xa hơn được hòn đảo nhỏ Mactan trong vùng đất ngày nay là tỉnh Cebu, cách thủ đô Manila vài trăm dặm về phía Nam. Chính tại đảo này, ông đã đụng độ với viên thủ lãnh bản xứ dữ tợn là Lapu-Lapu – kẻ không chịu quỳ gối hàng phục trước bọn chinh phục Tây Ban Nha.

Được vũ trang bằng gậy mây và lao, Lapu-Lapu và các thuộc hạ của ông đã đánh bại quân Tây Ban Nha, hạ nhục và giết chết thuyền trưởng Magellan đầy ngạo mạn vào lúc tàn cuộc chiến.

Việc sử dụng gậy mây trong trận chiến này thực là một điều thú vị. Gậy mây là vũ khí cổ truyền tại Philippines và chắc chắn là thứ vũ khí cổ nhất vẫn còn được sử dụng để tự vệ, cũng như được tập như một môn võ thể thao trên các hòn đảo này ngày nay.

Môn võ tự vệ độc đáo sử dụng gậy này có tên là Arnis (còn được biết dưới tên Escrima, theo tiếng Tây Ban Nha). Arnis là một bộ môn binh khí Philippines tương đương với môn kiếm thuật Tây phương hay kiếm đạo Nhật Bản. Chỉ khác một chỗ là trong môn Arnis, người ta thường chiến đấu bằng cả hai gậy, mỗi tay sử dụng một gậy.

Cây gậy dài, vào khoảng 76,2cm thường được cầm ở tay phải. Cây gậy ngắn vào khoảng 27,94cm, nằm trong tay trái. Do đó ta có thể thấy là môn Arnis mang những bản sắc tương tự với môn tự vệ Espada y daga (kiếm và dao găm) vốn từng là một bộ môn kiếm thuật được ưa chuộng ở châu Âu, nhất là tại Tây Ban Nha.

Tuy nhiên, đã hẳn là người châu Âu sử dụng kiếm và dao găm có lưỡi sắc bằng thép, còn người Filipinos chỉ dùng các cây gậy thuần túy. Nhưng tính hữu hiệu lớn lao của gậy chống kiếm đã được minh chứng một cách hùng hồn chẳng những trong cuộc đối đầu với đoàn quân của Magellan, mà còn trong những trận chiến chống lại quân Tây Ban Nha về sau đã đến xâm lược đảo Philippines bằng võ lực.

Philippines không phải là quốc gia duy nhất đã chứng tỏ được một cây gậy tầm thường có khả năng khắc chế lớn lao dường nào đối với kiếm thép. Người Nhật, suốt trong nhiều thế kỷ, cũng đã sử dụng môn đánh gậy gọi là jodo – môn binh khí đã tỏ ra hết sức gây ấn tượng khi dùng để khắc chế kiếm thép. Đánh gậy còn là một môn tự vệ cổ truyền trong một số quốc gia Đông Nam Á khác. Mặc dù Lapu-Lapu đã vô cùng bất khuất và can đảm, nhưng vài năm sau đó, người Tây Ban Nha cũng đã trở lại, quyết tâm chinh phục quần đảo này, biến chúng thành một thuộc địa của đế quốc Tây Ban Nha.

Người Filipinos vô cùng tự hào về môn võ Arnis, và đã sốt sắng chứng tỏ nó ngay với những kẻ chinh phục Tây Ban Nha đầu tiên lên đảo quốc của họ. Lịch sử ghi chép rằng các nhà thám hiểm Tây Ban Nha đặt chân lên các đảo Leyte, Bohol và Cebu đã được các tù trưởng người Filipinos hoan nghinh bằng các cuộc biểu diễn môn Kali-môn võ thuật bản xứ về sau được gọi là Arnis. Người Tây Ban Nha hết sức ngạc nhiên là môn võ địa phương này lại giống môn kiếm thuật kiếm và dao găm của châu Âu.

Các võ sĩ sử dụng các bolos (gậy) và balaraws (dao găm) bằng gỗ được chuốt đến mức trắng bóng y như các lưỡi kiếm và lưỡi dao thật. Bởi lẽ đó, người Tây Ban Nha đã gọi tên môn võ này là Espaday Daga, tên này ngày nay vẫn còn được dùng cho một phái của môn Arnis. Còn hai phái chính khác là Solo Baston (gậy đơn) và Sinawali, sử dụng hai gậy dài.

Vô luận người ta có nói gì về lớp thực dân Tây Ban Nha sau đó đã đến chiếm đảo Philippines, có một điều chắc chắn không thể thoát khỏi sự chú ý của họ, đó là môn võ Arnis. Không cần phải đợi đến khi bị giáng một cú gậy mây lên đầu rồi họ mới biết được đây là một món vũ khí cực kỳ lợi hại. Cho nên, một trong những việc họ làm đầu tiên là đặt môn võ này ra ngoài vòng pháp luật trên toàn lãnh thổ Philippines.

Hành động này của người Tây Ban Nha suýt nữa đã khai tử vĩnh viễn môn võ Arnis. Sự kiện môn võ đã sống sót được qua mấy trăm năm bị đàn áp mới thực là phi thường. Thực tế là một số người Filipinos vẫn tiếp tục bí mật tập luyện môn võ này, lưu truyền nó từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Kể cũng thú vị, các biến thể đa dạng của môn võ đã tiếp tục được nhiều nhóm và nhiều bộ lạc khác nhau lưu truyền, mỗi nhóm gọi nó bằng một cái tên khác nhau. Giữa vòng người Tagalogs, môn võ có tên là Pananandata. Người Ibanags, một bộ lạc người sơn cước, gọi nó là Pagkalikali . Người Pangasinans gọi là Kalirongan; người Visayans đặt tên là Kaliradman. Còn nhiều tên khác chịu ảnh hưởng tiếng Tây Ban Nha như Estocada, Estoque, Fraile, Arnis de mano hay Armas de mano.

Người Tây Ban Nha có lý do rất chính đáng để lo ngại môn võ Arnis, bởi y như trong trò quỷ thuật, hễ cứ có cuộc nổi dậy chống lại các lãnh chúa Tây Ban Nha nào thì y như rằng lại thấy chiếc gậy mây bí hiểm. Các võ sĩ Arnis đã đóng vai trò quan trọng trong Cuộc Nổi Dậy Malong năm 1660, Cuộc Nổi Dậy Dagohoy năm 1774, Cuộc Nổi Dậy Ilocos năm 1762 và Cuộc Đại Cách Mạng Philippines năm 1896.

Hoa Kỳ, nước thay thế Tây Ban Nha cai trị đảo quốc Philippines sau năm 1898, không còn cấm chỉ môn võ Arnis nữa. Vào thời điểm đó, nghệ thuật chiến đấu này chỉ còn được một số tương đối ít người trên đảo biết đến. Phải mãi đến sau Thế Chiến thứ hai, khi Philippines đã giành được độc lập, môn võ Arnis mới bắt đầu được hồi sinh.

Ngày nay, các võ sinh Arnis đã thành lập nhiều tổ chức để bảo tồn và thăng tiến môn phái. Một trong các nhóm nổi bật hơn cả là Hội Võ Thuật Arnis Philippines.

Các động tác cần phải nắm vững trong môn Arnis gồm có : đòn đánh (taga) bằng gậy hay bolo, đòn đỡ gạt (sangga), đòn tước vũ khí (agaw), và đòn ném đối thủ (buno).

Có tám (8) thế đánh căn bản: (1) buhat araw (đánh từ phía bên trên đầu); (2) aldabis sa itaas (đánh tạt lên trên); (3) tabas talahib (đánh tạt ngang hông); (4) tagang alanganin (đánh từ mọi hướng); (5) saboy (các thế ném); (6) aldabis sa ilalim (đánh từ dưới); (7) saksak (xỉa, thọc); và (8) bartical (đánh thẳng đứng).

Mỗi thế đánh có bốn (4) thế đỡ: sanggang papaalis (thế đỡ tước vũ khí) ; sanggang harang (đỡ chéo) ; sanggang taga (đỡ bằng cách chém vụt xuống) ; và sanggang palipad (đỡ bay).

Khía cạnh thể thao của môn Arnis chú trong đặt biệt đến thế đánh tước vũ khí (agaw), sử dụng một số kỹ thuật giống như của môn Hiệp Khí Đạo Nhật Bản.

Năm 1963, Đại Hội Arnis toàn quốc lần thứ nhất đã được tổ chức và được trực tiếp truyền đi trên lưới truyền hình quốc gia. Đại Hội được đặt dưới sự bảo trợ của Hội Võ Thuật Arnis Philippines. Các cuộc biểu diễn võ thuật Arnis được các chuyên gia của môn phái thuộc Viện Đại học Viễn Đông, trường Tondo, cũng như từ các khu vực Batangas, Laguna, Pampanga, Marikina và Sulu trực tiếp đảm nhiệm.

Nhằm giúp đẩy mạnh môn võ cổ truyền này, các cuộc biểu diễn còn được tổ chức tại Trung Tâm Hội Cơ đốc Thanh niên (YMCA) Manila, Trung tâm thi đấu Quyền Anh Basa, Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia Philippines, Cục điều tra Quốc gia (NBI), Hội hướng đạo Philippines, Nha Cảnh sát Manila và các nơi khác trên toàn quốc.

Các trường học cũng được kêu gọi tiếp sức trong nỗ lực làm sống lại môn võ dân tộc này. Ví dụ như trường tư thục Tondo của giáo sư Jose Mena và Viện Đại học Viễn Đông, cả hai học hiệu này đều có mở các lớp huấn luyện môn Arnis.

Kết quả của mọi nỗ lực này ra sao thì vẫn chưa ai biết chắc. Có nhiều môn thể thao khác – và nhiều môn võ thuật khác như Nhu đạo và môn võ được ưa chuộng cuồng nhiệt nhất là Không thủ đạo (Karate do) – đang cạnh tranh ráo riết để chiếm được sự quan tâm của công chúng Philippines. Tuy nhiên, các môn đồ nhiệt thành của môn Arnis cho rằng mấy trăm năm đô hộ của Tây Ban Nha đã không thể giết chết được môn võ Arnis, thì bây giờ lẽ nào họ lại chịu khoanh tay để nhìn môn võ đó tàn lụi…

Những nét tinh tế trong môn võ đánh gậy của Philippines: Kỹ thuật khóa – ném – dòng chảy – dây phơi

Khi tiếng tăm của Fred Lazo, người được mệnh danh là “Vị đại sứ của môn võ Arnis”, lan truyền khắp đảo quốc Philippines, số người thách đấu với anh cũng gia tăng theo. Lúc này đây, đối thủ đứng trước mặt anh cũng không khác gì những người khác : trẻ trung, mạnh mẽ và nhanh nhẹn, khát vọng chiến thắng ngời lên trong mắt anh ta.

Kẻ thách đấu tấn công nhanh và hiểm ác, các cú đỡ của anh ta rất mạnh mẽ. Nhưng giống như những kẻ trước anh, anh cũng không lường trước được đúng lúc cái bẫy khóa tay của vị đại sứ Arnis, để kịp tránh né. Quyết không khuất phục, kẻ thách đấu vùng thoát ra không có gì khó khăn. Rủi thay, việc vùng thoát một đòn khóa cườm tay chỉ tổ dẫn đến một đòn khóa cánh tay đến trẹo cả xương.

Lợi dụng lực bẫy từ đòn khóa tay cống hiến, vị đại sứ Arnis khéo léo ném tung kẻ thách đấu ra xa mấy thước làm y bất tỉnh.

Khi được quan niệm như một võ khí, cây gậy thường được mô tả như một lợi khí để đánh và đỡ, ít khi người ta xem nó là hữu dụng trong các kỹ thuật ném, khóa, hay gài bẫy đối phương. Tuy nhiên, hầu hết các môn phái đánh gậy của Philippines đều bao gồm đầy đủ các khía cạnh kỹ thuật này.

Cả hai phái Arnis truyền thống và hiện đại đều thống nhất quan điểm xem cây gậy chẳng những là một võ khí, mà còn là một dụng cụ dùng để tập vươn duỗi và tập nóng người cho các võ sinh. Dùng gậy như một bẫy lực, người võ sinh Arnis vươn duỗi các khớp vai, cùi chỏ và cườm tay thật hoàn hảo, trước khi bước vào tập các đòn ghì, khóa và ném. Tập luyện vươn duỗi rất quan trọng trong việc phát triển tính mềm dẻo, uyển chuyển của các khớp, và để tránh những thương tổn nghiêm trọng.

Các kỹ thuật khóa

Các kỹ thuật khóa là sự vươn dài tự nhiên và hợp lý của các thao tác ngăn chặn và ghì chặt trong môn Arnis. Ở bước nhập môn, võ sinh học cách đỡ và ngăn chặn đòn đánh của đối thủ. Một đòn ngăn chặn gồm có động tác sử dụng bàn tay rảnh rỗi, hay là bàn tay đang cầm vũ khí, để vỗ lân hay tiếp xúc với võ khí của đối thủ, nhằm khống chế được hắn khi người võ sĩ bắt đầu phản công.

Khi đã hoàn chỉnh đòn ngăn chặn rồi, bước tiếp theo là ghì chặt lấy võ khí hay cánh tay của đối thủ. Có thể tăng cường thêm sức mạnh cho đòn ngăn chặn bằng cách “bẫy” võ khí của đối thủ. Nếu đối thủ thoát khỏi cái bẫy này, hắn sẽ rảnh tay để phản công, do đó, có thể người võ sĩ cần phải đỡ, ngăn chặn và hay ghì chặt một lần nữa. Để giảm đến mức tối thiểu khả năng này, có thể sử dụng các đòn khóa để vô hiệu hóa đòn tấn công của đối thủ, và dùng chúng như đòn thay thế cho đòn đánh ra. Các kỹ thuật như thế rất đắc dụng đối với các nhân viên công lực và tất cả những ai muốn chế ngự đối thủ mà không sợ gây ra thương tích.

Trong môn võ Arnis, có năm (5) vùng căn bản thích hợp cho đòn “bẫy”, năm vùng này tạo cơ sở cho một đòn (kỹ thuật) khóa, đó là: cườm tay, hai khớp cùi chỏ, hai nách hai khớp vai. Sau khi đỡ một đòn đánh, võ sĩ Arnis có thể ngăn chặn và ghì chặt lấy võ khí của đối thủ. Nếu thành công, ở vị thế này anh ta rất tiện lợi dụng được võ khí của đối thủ làm lực bẫy, bằng cách đặt võ khí đó trên hay dưới 5 vị trí thích hợp cho đòn bẫy vừa kể trên. Một đòn bẫy được xem là hoàn chỉnh khi người võ sĩ tạo ra được tình huống trong đó khả năng đánh trả của đối thủ bị giảm thiểu đáng kể, thường thì bằng biện pháp vô hiệu hóa (hay làm tê liệt) võ khí và hay cánh tay (hoặc 2 cánh tay) của hắn. Một khi đối thủ “mắc bẫy” rồi, người võ sĩ Arnis tha hồ tung ra những đòn phản công như đấm, đá, khóa hoặc ném. Nếu ý định chỉ nhằm vô hiệu hóa đối phương thôi thì có lẽ nên sử dụng các đòn khóa là hữu hiệu nhất, vì các đòn này gây đau đớn hơn các đòn bẫy và đòn ngăn chặn nhiều, do đó cho phép người võ sĩ chế ngự được đối thủ tốt hơn.

Các kỹ thuật khóa được thực hiện bằng cách gây sức ép thật đau đớn lên các khớp, hay các vùng thích hợp cho đòn bẫy của đối phương. Cơn đau đớn xuất hiện vì khớp bị vặn tréo hay bị thúc ép vào một vị trí cực kỳ bất thường.

Các kỹ thuật khóa có thể được sử dụng để chống lại các đối thủ có võ trang hoặc không võ trang. Trong cả hai trường hợp, nguyên tắc đều như nhau: đỡ và ngăn chặn đòn tấn công tiếp theo bằng một đòn bẫy và kế đó là đòn khóa nhằm vào một hay hơn một vùng nhược điểm của đối thủ. Điều quan trọng nên nhớ là các đòn khóa và ném đạt hiệu quả tối đa khi được vận dụng theo cách thế vòng tròn, chứ không nên chỉ dựa trên sức mạnh thô bạo mà thôi. Các động tác vòng tròn phối hợp với kỹ thuật cùng khả năng tính toán thời gian thích đáng có thể đặt người võ sĩ vào vị thế thuận lợi để áp dụng các đòn khóa và đòn chế ngự gây đau đớn cho đối thủ.

Điểm quyết định cho các đòn khóa thật hiệu quả là thời gian chuyển tiếp giữa một đòn bẫy và một đòn khóa. Khi bị bẫy, đối thủ thường hay vùng vẫy để thoát ra. Đây là thời điểm bằng vàng để tung ngay một đòn khóa. Vì một đòn bẫy, nếu áp dụng tốt, đã câu thúc được đối thủ đáng kể, cho nên người võ sĩ Arnis đã ở đúng thời cơ để gài thân thể đối thủ vào một thế khóa.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s